GIỚI THIỆU HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU 


      BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH.png

 

 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1.     Vị trí địa lý
Huyện Dương Minh Châu nằm ở phía Tây giáp Thành phố Tây Ninh, phía Bắc giáp huyện Tân Châu, phía Nam giáp huyện Gò Dầu, phía Đông giáp 2 tỉnh Bình Dương, Bình Phước, gồm 01 thị trấn và 10 xã. Có diện tích tự nhiên 453,12 km2 (đứng thứ tư sau huyện Tân Châu, Tân Biên và huyện Châu Thành), chiếm 11,22% diện tích toàn tỉnh. Huyện nằm khoảng giữa phần phía Đông của tỉnh Tây Ninh, trong vùng kinh tế tổng hợp của Tỉnh, kinh tế chủ đạo là nông nghiệp với các loại cây trồng cho chất lượng và năng suất cao như: lúa, mì, mía, cao su …. Và các vùng chuyên canh: lúa, mía, mì.

2.     Địa hình, địa mạo
Huyện Dương Minh Châu có địa hình khá bằng phẳng, trên trầm tích phù sa cổ. Diện tích tự nhiên 453,12 km2 (đứng thứ tư sau huyện Tân Châu, Tân Biên và huyện Châu Thành), chiếm 11,22% diện tích toàn tỉnh.

3.     Khí hậu
Huyện Dương Minh Châu có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa mưa và khô rõ rệt, không có bão và mùa đông lạnh. Nhiệt độ bình quân 25 - 280, nhiệt độ tối cao trung bình 320  vào khoảng tháng 3 và tháng 4, nhiệt độ tối thấp trung bình 230 vào tháng 1. Lượng mưa trên địa bàn huyện tương đối lớn từ 1.900 - 2.000 mm/năm, phân bổ theo mùa nên đã chi phối mạnh mẽ nền sản xuất nông nghiệp. 


TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

 

1.     Tài nguyên đất
Đất tự nhiên của huyện được chia theo mục đích sử dụng và đối tượng sử dụng, trong đó đất nông nghiệp 28.312,35 ha; đất phi nông nghiệp 17.138,22 ha. Ngoài ra, Dương Minh Châu còn có diện tích đất bán ngập trong Hồ Dầu Tiếng - Phước Hòa, diện tích này thay đổi theo mùa, khoảng 4.560 ha.

2.     Tài nguyên nước
Huyện Dương Minh Châu có tài nguyên nước mặt phong phú. Hồ Dầu Tiếng - Phước Hòa với diện tích mặt nước khoảng 27.000 ha, dung tích hữu hiệu khoảng 1,5 tỷ m3 nước, đủ để tưới cho trên 175.000 ha đất canh tác và cung cấp nước sinh hoạt cho toàn tỉnh và một số tỉnh lân cận. Tài nguyên nước ngầm trên địa bàn huyện xuất hiện ở độ sâu 25 - 35 m, chất lượng tốt có khả năng sử dụng cho sinh hoạt, sử dụng giếng khoan tưới cho cây công nghiệp và cây ăn trái.
3. Tài nguyên rừng
Tài nguyên rừng trên địa bàn là 949,19 ha. Trong đó rừng phòng hộ diện tích 442,28 ha, xếp thứ 3 diện tích rừng phòng hộ trong toàn tỉnh (sau tân Châu và Tân Biên) và rừng đặc dụng với tổng diện tích 506,91 ha.

4. Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản ở huyện Dương Minh Châu chủ yếu là nhóm nguyên liệu phi kim loại gồm: than bùn, đá vôi, cuội, sét, kaolin, đá xây dựng, nước khoáng. Kaolin phân bổ ở các xã Suối Đá, Cầu Khởi. Kaolin tại ấp Tân Định 1 (xã Suối Đá) trử lượng 1,6 triệu tấn; ấp Khởi Trung (xã Cầu Khởi) trử lượng 2,57 triệu tấn, được đánh giá là có triển vọng, đáp ứng yêu cầu nguyên liệu gốm hoặc sứ. Đá xây dựng trên địa bàn chủ yếu là đá Granit ở khu vực Núi Bà Đen, Núi Phụng, ấp Lộc Trung - xã Lộc Ninh đạt yêu cầu sản xuất đá xây dựng. 

TÀI NGUYÊN NHÂN VĂN

 

Tổng dân số 128.061 người (năm 2015), số người trong độ tuổi lao động của huyện 73.918 người (năm 2015). Huyện Dương Minh Châu là nơi định cư và sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau như: dân tộc Kinh, Tày, Thái, Mường, Khơ Me, Hoa (Hán), Nùng, Xtiêng, Chăm… Trong đó thành phần dân tộc Kinh là đông nhất chiếm 99,5%. Đặc biệt trên địa bàn huyện có nhóm dân tộc Tà - Mun (không có tên trong 54 dân tộc) sống tập trung tại ấp Tân Định 2 (xã Suối Đá) chiếm 0,28%, còn lại là các dân tộc khác.

Trên địa bàn huyện có 26 cơ sở thờ tự của 06 tôn giáo (trong đó Cao đài: 19 cơ sở gồm 10 Thánh thất, 07 Điện thờ phật mẫu, 02 Đàn của phái Cao đài Chiếu minh (Pháp bữu đàn và Minh cảnh đàn); Phật giáo: 05 cơ sở gồm 04 Chùa, 01 Niệm từ đường; Công giáo: 02 Nhà thờ. Tổng số 55.997 tín đồ, chiếm 52,98% dân số toàn huyện (Cao đài: 44.477 tín đồ, Phật giáo: 10.075 tín đồ, Công giáo: 1.404 tín đồ, Tin lành: 22 tín đồ, Hồi giáo: 04 tín đồ, Phật giáo Hòa hảo: 15 tín đồ).


TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG

 

Nhân dân Dương Minh Châu cần cù lao động, có tinh thần cách mạng là một đặc điểm nhân văn quan trọng đối với sự phát triển của huyện. Trong 02 thời kỳ kháng chiến chống xâm lược, huyện là căn cứ địa cách mạng (chiến khu C), nơi đây chứa đựng nhiều truyền thống cách mạng với các khu di tích lịch sử, trong kháng chiến đã góp phần làm sáng tỏ đường lối quân sự của Đảng về vấn đề xây dựng căn cứ địa, xây dựng hậu phương trực tiếp và tại chỗ, là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nơi giáo dục truyền thống, lòng yêu nước cho thế hệ trẻ. Để có một huyện Dương Minh Châu tươi đẹp như ngày nay, mỗi tên đất, tên làng, tên suối, tên sông, tên bàu đều thắm đẫm máu xương của bao thế hệ. Đảng bộ, dân và quân huyện Dương Minh Châu đã vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cùng với 6 xã của địa phương: Chà Là, Cầu Khởi, Phước Ninh, Lộc Ninh, Bến Củi, Suối Đá và Ban An ninh huyện (Công an huyện ngày nay). Huyện có hơn 60 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 558 liệt sĩ, 392 thương binh và hơn 6000 gia đình có công với nước. Nghĩa trang liệt sĩ của huyện xây dựng tại trung tâm huyện (Thị trấn Dương Minh Châu) đã qui tụ hơn 2.500 liệt sĩ là những người con ở khắp mọi miền đất nước đã anh dũng hy sinh trên mãnh đất này. 


DI TÍCH – DANH THẮNG

 

Huyện Dương Minh Châu có nhiều cảnh quan nổi bật và có giá trị lớn phục vụ  du lịch như: Hồ Dầu tiếng - Phước Hòa, rừng lịch sử Dương Minh Châu nằm ở xã Phước Ninh. Nơi đây là điều kiện thuận lợi để huyện đầu tư phát triển thành khu du lịch sinh hoạt truyền thống, nghỉ dưỡng, giải trí, thể thao, công viên rừng, khu săn bắn, câu cá, bãi tắm, du thuyền, các môn thể thao trên mặt nước… Huyện Dương Minh Châu có 03 di tích lịch sử - văn hoá được xếp hạng: Rừng lịch sử Dương Minh Châu (cấp quốc gia) và Đình Phước Hội - Suối Đá, Đình Truông Mít (cấp tỉnh). 


LỊCH SỬ HÌNH THÀNH HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU

VỊ THẾ QUÂN SỰ CỦA CĂN CỨ DƯƠNG MINH CHÂU

 

1. Lịch sử hình thành huyện Dương Minh Châu

Giữa tháng 5/1951, theo yêu cầu của cuộc kháng chiến, huyện căn cứ Dương Minh Châu được thành lập.

Buổi lễ thành lập huyện căn cứ được tổ chức tại Tích Ca (Suối Ky - nay thuộc huyện Tân Biên). Về mặt hành chính huyện căn cứ gồm 5 xã: Ninh Thạnh, Thạnh Bình, Chơn Bà Đen, Phước Ninh, Định Thành. Tỉnh uỷ Gia Định Ninh chỉ đạo tách một phần xã Ninh Thạnh nhập vào một phần xã Thái Bình, thành lập xã mới là xã Thạnh Bình. Các xóm quanh núi Bà cùng các xóm dân cư trong khu căn cứ hình thành xã Chơn Bà Đen. Hai xã Lộc Ninh và Phước Hội nhập lại thành xã Phước Ninh; tách ấp Bến Buôn của xã Phước Ninh nhập vào một số xóm dân cư ven sông sài Gòn thành lập xã Định Thành. Dân số khoảng 10.000 người.

2. Vị thế quân sự huyện căn cứ Dương Minh Châu

Căn cứ Dương Minh Châu (01 trong 4 chiến khu lớn ở miền Nam, còn gọi là Chiến khu C) có vị trí, địa thế khá đặc biệt, nằm trên một khu vực rừng già và rừng chồi nối tiếp nhau. Phía Đông giáp sông Sài Gòn, từ đây có thể vượt sông nối thông sang chiến khu D. Phía Nam liên thông với vùng căn cứ địa Bời Lời (huyện Trảng Bàng), Bến Đình, Bến Dược (Củ Chi). Phía Tây thông với tỉnh lộ 13, giáp với tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông thông với căn cứ Rừng Nhum, Hòa Hội (Châu Thành), kéo dài đến chiến khu Đồng Tháp Mười. Phía Bắc, giáp với vùng Đông Bắc, Campuchia, vị trí quan trọng khi ta chuyển quân trong các trận càn lớn của địch. Rừng bạt ngàn, đường giao thông thuỷ bộ thuận tiện nối với các địa phương trong tỉnh, với nhiều chiến trường, căn cứ địa trong toàn miền. Chính vì thế, căn cứ Dương Minh Châu có một vị thế địa lý quân sự hết sức quan trọng.

 

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, sau khi huyện căn cứ được thành lập, căn cứ Dương Minh Châu là nơi đóng quân của toàn bộ cơ quan Xứ ủy, sau đó là Trung ương Cục, Bộ Tư lệnh Nam bộ, Bộ Chỉ huy Phân liên khu Miền Đông, Tỉnh uỷ Gia Định Ninh… Trong kháng chiến chống Mỹ bên cạnh cơ quan Trung ương Cục còn có Bộ Chỉ huy Quân giải phóng Miền Nam, Đài phát thanh Giải phóng, Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam và nhiều cơ quan trực thuộc Trung ương Cục, bộ đội tư lệnh Miền… Huyện Dương Minh Châu từng được mệnh danh là "Thủ đô kháng chiến" của Nam bộ. 


Lục Quốc Hiệp